🎊 Bài 6 Qua Đèo Ngang
Sự nghiệp sáng tác: Bà sáng tác không nhiều, phần lớn viết bằng chữ Nôm, thể thơ Đường luật. Tác phẩm của chị hiện có 6 bài thơ Đường luật (gồm: Thành Thăng Long nỗi nhớ, Chiều nhớ nhà, Chùa Trấn Bắc, Cảnh chiều tàn, Cảnh Trấn Võ, Qua Đèo Ngang).
Em hãy chỉ rõ và nêu tác dụng của các từ láy trong hai câu thực của bài.Câu 3: Hãy nhận xét về cảnh tượng Đèo Ngang qua sự miêu tả của Bà Huyện Thanh Quan.Câu 4: Viết đoạn văn cảm nhận về 6 câu đầu trong bài thơ “Qua Đèo Ngang”.
Nội dung chính. 1. Tâm trạng tác giả trong bài thơ Qua Đèo Ngang, mẫu số 1: 2. Tâm trạng tác giả trong bài thơ Qua Đèo Ngang, mẫu số 2: Nhằm mục đích giúp học sinh nắm vững kiến thức tác phẩm Qua đèo ngang Ngữ văn lớp 7, bài học tác giả - tác phẩm Qua đèo ngang trình bày
Qua Đèo Ngang Công ty Cổ phần Khoa học và Công nghệ Giáo dục, Mã số thuế: 0106303886 Địa chỉ: 12 ngõ 156 Nguyễn Đổng Chi, Phường Cầu Diễn, Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội
Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang – Mẫu 6. Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan được sáng tác khi bà đi ngang con đèo này để vào kinh thành Huế nhận chức làm quan.
Sơ đồ tư duy Qua đèo Ngang - Bà Huyện Thanh Quan. Tham khảo ngay sơ đồ tư duy Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, hệ thống kiến thức về bài thơ Qua đèo Ngang ngắn gọn, dễ hiểu giúp học sinh lớp 7 học và ôn tập tốt môn Ngữ Văn. Phân tích nét nữ tính trong thơ Bà Huyện
Bài Đèo Ngang trong Contes et Légendes du Pays d’Annam có thể là một giai thoại dân gian lâu đời, có trước thời Bà Huyện Thanh Quan chăng. Sau đây là bài Đèo Ngang theo ông Lê Văn Phát: Đèo Ngang Qua ải Đèo Ngang bóng ác tà, Cỏ cây chen đá, lá chen ba.
Soạn Văn 7 bài Qua đèo ngang VNEN là tài liệu được biên soạn theo chương trình học VNEN môn Văn lớp 7. Đây là tài liệu hữu ích cho thầy cô và các em học sinh tham khảo, chuẩn bị cho các bài học trên lớp.
Thư viện tài liệu học tập, tham khảo online lớn Soạn Văn: Qua đèo ngang Hướng dẫn soạn Bố cục: đề - thực - luận - kết - câu đề: Cái nhìn chung cảnh vật - câu thực: Miêu tả sống người - câu luận: Tâm trạng tác giả - câu kết: Nỗi cô đơn lên cao Câu (trang 103 sgk Ngữ
sJJFaGA. Tác phẩm “Qua đèo ngang” – Bà Huyện Thanh Quan tuy ra đời cách đây đã gần hai thế kỉ nhưng nó vẫn giữ nguyên vẹn giá trị trước thử thách của thời gian. Bao người yêu thơ thuộc lòng bài thơ này và khâm phục tài năng của tác giả. Chúng ta cùng nhau soạn bài “Qua đèo ngang” Ngữ văn 7 để thêm yêu đất nước và trân trọng tấm lòng của Bà Huyện Thanh Quan gửi gắm vào bài thơ này. Mời độc giả cùng đón đọc bài viết này. Trời, non, nước càng bao la, cao rộng bao nhiêu thì mảnh tình riêng càng nặng nề u uất Nguồn ảnh sưu tầm Soạn bài Qua đèo ngang - Bà Huyện Thanh QuanCâu 1 Trang 103, SGK, Ngữ văn 7 Căn cứ vào lời giới thiệu về thể thất ngôn bát cú Đường luật ở chú thích, em hãy nhận dạng thể thơ của bài Qua Đèo Ngang về số câu, số chữ trong câu, cách gieo vần, phép đối giữa câu 3, câu 4, câu 5 với câu 6. Trả lời Qua Đèo Ngang là một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật. - Bài thơ này có 8 câu mỗi câu bảy chữ, hợp vần ở chữ cuối câu một và chữ cuối các câu chẵn 1, 2, 4, 6 và 8. - Trong bài thơ, câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6. Nói cách khác, có phép đối ở bốn câu giữa. Câu 2 Trang 103, SGK, Ngữ văn 7 Cảnh tượng Đèo Ngang được miêu tả ở thời điểm nào trong ngày? Thời điểm đó có lợi thế gì trong việc bộc lộ tâm trạng của tác giả? Trả lời Cảnh tượng đèo Ngang được miêu tả vào lúc xế tà đã về chiều. Thời điểm này là thời điểm ngày sắp tàn. Đó chính là thời điểm dễ gợi nỗi buồn cho lòng người. Ngay ở dân ca Việt Nam từ ngàn xưa cũng từng cho thấy - Chiều chiều ra đứng ngõ sau Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều. - Lặng nghe chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau. Thời điểm xế tà là lợi thế để tác giả bộc lộ tâm trạng cô đơn của mình lúc qua đèo. Câu 3 Trang 103, SGK, Ngữ văn 7 Cảnh Đèo Ngang được miêu tả gồm những chi tiết gì? Trả lời Cảnh đèo Ngang được miêu tả gồm các chi tiết cỏ, cây, hoa, lá, dãy núi, con sông, cái chợ, mây túp nhà, có tiếng chim cuốc và chim đa đa, có vài chú tiều người đốn củi. Nhà thơ khéo dùng các từ láy lom khom, lác đác, các từ tượng thanh quốc quốc, gia gia đặc biệt gợi hình và gợi cảm, càng gợi lên cảm giác hoang vắng, quạnh hiu. Câu 4 Trang 103, SGK, Ngữ văn 7 Hãy nhận xét về cảnh tượng đèo Ngang qua sự miêu tả của Bà Huyện Thanh Quan. Trả lời Qua đèo Ngang là một bức tranh thiên nhiên có sự sống con người nhưng hoang sơ, núi đèo bát ngát, vắng lặng và buồn thể hiện một tâm trạng cô đơn, bâng khuâng, buồn nhớ của tác giả. Câu 5 Trang 103, SGK, Ngữ văn 7 Hãy hình dung tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan khi qua Đèo Ngang. Tâm trạng đó được thể hiện qua hai hình thức mượn cảnh nói tình và trực tiếp tả tình như thế nào? Trả lời - Mượn cảnh nói tình thông qua thời gian và không gian hình thức + Gia gia – vừa mô phỏng tiếng chim như đồng âm với nó còn có nghĩa là nhà. Nỗi nhớ nhà đang trào dâng trong lòng người nữ sĩ xa quê, trong cảnh chiều hôm người ta tìm về mái ấm gia đình, còn bà lại đang dừng chân chống hoang sơ hiu quạnh, nhớ nhà là phải lắm. + Con quốc quốc – mô phỏng tiếng chim kêu và đồng âm với nó quốc quốc là đất nước, Tổ quốc. Bà là nho sĩ xứ Bắc Hà quặn lòng nhớ về Thăng Long xưa, nhớ về quá khứ của đất nước lúc còn hưng thịnh, lúc triều Nguyễn chưa dời kinh đô vào Huế. - Trực tiếp tả tình Thể hiện qua câu cuối của bài thơ "Một mảnh tìn riêng ta với ta". Mảnh tình riêng đó thật sâu sắc, thấm thía. Câu 6 Trang 103, SGK, Ngữ văn 7 Nói đến mảnh tình riêng giữa cảnh trời, non, nước bao la ở Đèo Ngang thì có gì khác với cách nói một mảnh tình riêng trong một không gian chật hẹp. Trả lời Nói đến một mảnh tình riêng giữa cảnh trời, non, nước bao la ở đèo Ngang là thể hiện một tương quan đối lập trời, non, nước càng bao la, cao rộng bao nhiêu thì mảnh tình riêng càng nặng nề u uất bấy nhiêu! Dĩ nhiên là khác với nói một mảnh tình riêng trong một không gian chật hẹp. Trên đây là phần soạn bài “Qua đèo ngang” – Bà Huyện Thanh Quan, hy vọng với bài soạn chi tiết và đầy đủ này sẽ giúp các em có các câu trả lời tốt khi tiếp cận văn bản.
Lý thuyết Ngữ văn 7VnDoc xin giới thiệu bài Lý thuyết Ngữ văn 7 Qua Đèo Ngang được chúng tôi sưu tầm và tổng hợp nhằm giúp ích cho các bạn học sinh cùng quý thầy cô tham khảo để giảng dạy và học tập tốt Ngữ văn lớp ý Nếu bạn muốn Tải bài viết này về máy tính hoặc điện thoại, vui lòng kéo xuống cuối bài viết1/ Tìm hiểu chung tác phẩm Qua Đèo Nganga/ Tác giả- Bà Huyện Thanh Quan 1805 – 1848.- Tên thật là Nguyễn Thị Hinh là một nhà lớn nổi tiếng trong thời văn học trung Bà sinh ra tại mảnh đất Nghi Tàm, Vĩnh Thuận, Tây Bà là một người phụ nữ tài giỏi nên được cử một chức quan vào cung dạy học cho những cung phi công Bà để lại các tác phẩm tiêu biểu như+ Qua đèo ngang+ Thăng Long thành hoài cổ+ Chiều hôm nhớ nhà+ Tức cảnh chiều thub/ Tác phẩm- Hoàn cảnh sáng tác+ Bài thơ được viết khi Bà Huyện Thanh Quan vào Phú Xuân - Huế nhận chức quan của mình.+ Bài thơ này được viết vào khoảng thế kỉ XIX, khi tác giả lần đầu tiên tới Đèo Thể thơ Thất ngôn bát cú đường Bố cục 4 phần Đề, thực, luận, kết+ Hai câu luận bàn luận, nhận xét+ Hai câu thực miêu tả cụ thể cảnh và người+ Hai câu đề mở ý+ 2 câu cuối khép lại mạch ý bài thơ. Đó chính là nỗi lòng của Bà Huyện Thanh Đọc - hiểu văn bản Qua Đèo Nganga/ Hai câu đề"Bước tới đèo Ngang bóng xế tàCỏ cây chen đá lá chen hoa"- Thời điểm bóng xế tà→ Ánh nắng nhạt của chiều muộn ⇒ Gợi nỗi buồn.→ Gợi lên một nỗi buồn man Cảnh cỏ cây chen đá > < Mảnh tình riêng ta với ta+ Cảnh bao la, bát ngát, hùng vĩ, trùng điệp → Ấn tượng mênh mông, xa lạ, vắng vẻ và tĩnh lặng+ Tình nhỏ nhoi, cô đơn tuyệt đối⇒ Hình ảnh đối lập. Cảnh bao la khôn cùng, con người buồn bã, cô đơn, nhỏ bé⇒ Gợi tâm sự sâu kín về nỗi nhớ nước, thương nhà da diết, âm thầm, lặng lẽ của con người trước cảnh vật bao la và rộng lớn..* Tổng kết Nghệ thuật - Sử dụng thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật điêu luyện- Sử dụng bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc Bút pháp miêu tả kết hợp với biểu cảm hấp Lời thơ trang nhã, điêu luyện; âm điệu trầm Sử dụng phép đối, từ láy trong việc tả cảnh, tả dung Cảnh đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng của sự sống con người nhưng còn hoang nghĩa - Bài thơ thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà, nỗi buồn cô đơn thầm lặng của tác Nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ trước cảnh vật Đèo Bài tập minh họa bài Qua Đèo NgangĐề bài Phân tích bài thơ "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Mở bài- Họ tên là Nguyễn Thị Hinh sống vào giữa thế kỉ 19. Quê ở Nghi Tàm, Thăng Long; sinh trưởng trong một gia đình quyền quý cuối thời Lê – Trịnh. Chồng bà làm quan huyện Thanh Quan tỉnh Thái Bình nên người đời ái mộ gọi bà là Bà Huyện Thanh Bà hay chữ, giỏi thơ; hiện còn lại sáu bài thơ Nôm “Qua Đèo Ngang”, “Chiều hôm nhớ nhà”, “Thăng Long thành hoài cổ’”,… Thơ của bà trang trọng du dương, rất điêu luyện. Bà hay nói đến hoàng hôn và li biệt. Thơ bà thấm một nỗi buồn man mác, cô thơ “Qua Đèo Ngang” có thể được nữ sĩ viết vào khi trên đường thiên lí vào kinh đô Phú Xuân làm nữ quan “Cung trung giáo tập”. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, luật trắc vần bằng. “Qua Đèo Ngang” tả cảnh Đèo Ngang lúc ngày tàn và nói lên nỗi buồn nhớ, cô đơn của người lữ khách“Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,……….Một mảnh tình riêng ta với ta”.2/ Thân bàia/ Phần đề- Đèo Ngang là địa giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hà Tĩnh – Quảng Bình. Dãy Hoành Sơn chạy dài ra tận bờ biển mà tạo thành con đèo “đệ nhất hùng quan” của Đại Câu phá đề nói lên thời điểm khi nữ sĩ vừa “bước tới” chân đèo. Đó là lúc mặt trời đã gác núi, lúc “bóng xế tà”. Thời khắc ấy thường rất buồn, nhất là đối với khách li hương. Chữ “tà” để gieo vần, là trầm bình thanh thanh bằng có dấu huyền cũng tạo nên âm điệu trầm buồn như kéo dài mãi Câu thừa đề gợi tả cảnh quan con đèo. Cỏ, hoa, lá, đá “chen” nhau mà tồn tại. Cảnh cằn cỗi hoang vu. Điệp ngữ “chen” tô đậm nét cằn cỗi, hoang vu ấy. Chữ “lá” vần với chữ “đá” tạo nên một vần lưng đặc sắc, hòa điệu với vần chân “tà – hoa”, âm điệu thơ trầm bổng, du dương. Hoa được nói tới là hoa rừng, hoa mua, hoa sim tím, một “màu hoang biền biệt” thơ Hữu Loan.b/ Phần thực- Cuộc sống và con người nơi Đèo Ngang hơn 150 năm về trước. Cành vật đối nhau có núi và sông, có mấy chú tiều phu “lom khom” gánh củi và mấy nhà chợ “lác đác” thưa thớt. Chợ miền núi, chợ chiều nên trống trơ, hoang Cặp từ láy “lom khom” và “lác đác” đứng đầu câu thơ đảo ngữ vừa tạo nên ấn tượng sâu sắc về cuộc sống hoang vắng, nghèo nàn nơi Đèo Ngang. Nữ sĩ càng cảm thấy mình bơ vơ, trơ trọi và buồn khôn xiết Phần luận- Trời tối dần, chim rừng cất tiếng gọi đàn con cuốc cuốc và cái gia gia. Khúc nhạc rừng cất lên, lúc hoàng hôn rất buồn, gợi lên bao nỗi niềm đối với li khách vừa “nhớ nước, đau lòng” vừa “thương nhà mỏi miệng”. Tiếng chim cũng là tiếng lòng. Bút pháp tả cảnh ngụ tình rất đặc Phép đối và đảo ngữ vừa tạo hình vừa tạo nhạc; vần thơ rung lên làm xúc động, làm thổn thức hồn Phần kết- Bốn chữ “dừng chân đứng lại” gợi tả một cử chỉ, một hành động, một tâm trạng ngơ ngác, bồi hồi. Đứng lại để nhìn con đèo; dừng chân để nghe tiếng chim gọi đàn. Giữa mênh mông “trời non nước”, lữ khách chỉ thấy mình trơ trọi “ta với ta”. Chút “tình riêng” như tan ra thành “mảnh”, buồn đau tê tái. Chữ “một” đứng đầu câu thơ cuối bài đã đặc tả nỗi buồn lẻ loi, cô đơn của tác giả khi một mình đứng trên đỉnh Đèo Ngang lúc ngày Hình tượng thơ được đặt trong thế tương phản độc đáo. Cái mênh mông, bao la, vô hạn của “trời non nước’’ tương phản cái “ta” nhỏ bé, lẻ loi và đơn côi. Nỗi nhớ quê nhớ nhà dâng lên trong lòng li khách không thể nào kể Trong bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà”, hai câu kết cũng đã cực tả nỗi buồn nhớ da diết, nhớ quê, nhớ nhà, nhớ người thân thương của người lữ khách“Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn”3/ Kết bài- “Qua Đèo Ngang” là bài thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật rất đặc sắc. Vần thơ, niêm luật, bố cục và phép đối chặt chẽ chứng tỏ một bút pháp nghệ thuật độc đáo, điêu luyện. Hình tượng thơ mang tính ước lệ tượng trưng nhưng rất biểu cảm, nhất là âm điệu, nhạc điệu bổng trầm, du dương như cuốn hút hồn Cảnh Đèo Ngang, tâm tình nữ sĩ – khách li hương như chan hòa, như cộng hưởng. Tình yêu thiên nhiên, nỗi nhớ quê nhớ nhà, nỗi buồn cô đơn của li khách đã kết đọng thành vẻ đẹp nhân văn của bài thơ tuyệt bút “Qua Đèo Ngang”.-Với nội dung bài Qua Đèo Ngang các bạn học sinh cùng quý thầy cô cần nắm vững kiến thức về hoàn cảnh sáng tác, giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Qua Đèo Ngang do Bà Huyện Thanh Quan sáng tác…Trên đây VnDoc đã giới thiệu nội dung bài Lý thuyết Ngữ văn 7 Qua Đèo Ngang. Ngoài ra các bạn có thể tham khảo thêm một số chuyên mục Lý thuyết môn Ngữ Văn 7, Tác giả - Tác phẩm Ngữ văn 7, Soạn bài lớp 7, Văn mẫu lớp 7, Giải Vở bài tập Ngữ Văn 7, Soạn văn 7 siêu ngắn.
I - KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1. Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hĩnh, sống ở thế kỉ XIX, người làng Nghi Tàm, nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội. Bà là nữ sĩ tài danh, hiện còn để lại sáu bài thơ Đường luật. 2. Với phong cách trang nhã, bài thơ Qua Đèo Ngang cho thấy cảnh tượng Đèo Ngang hoang sơ, heo hút, thấp thoáng sự sông, đồng thời thê hiện tình cảm nhớ nước thương nhà, nỗi buồn thầm lặng cô đơn của tác giả. II - HƯỚNG DẪN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN 1. Bài thơ Qua Đèo Ngang là thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Bài thơ gồm 8 câu, mỗi câu có bảy tiếng, vần được gieo ở cuối câu 1, 2, 4, 6, 8 tà, hoa, nhà, gia, ta. Câu 3 và 4 đối nhau lom khom dưới núi - lác đác bên sông ; tiều vài chú - chợ mây nhà. Câu 5 và 6 đối nhau Nhớ nước đau lòng - Thương nhà mỏi miệng; con quốc quốc - cái gia gia. 2. Cảnh tượng Đèo Ngang được miêu tả ở thời điểm chiều tà bóng xế trong ngày. Thời điểm đó dễ gợi tâm trạng buồn của con người, nhất là người phụ nữ, trên đường đi xa. 3. Cảnh Đèo Ngang được mô tả gồm những chi tiết cỏ, cây, đá, vài chú tiều, mấy nóc nhà, dãy núi, dòng sông, tiếng chim đa đa, chim cuốc. Những chi tiết đó cho thây Đèo Ngang um tùm, rậm rạp cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Con người thì ít ỏi, thưa thớt mấy người đốn củi, vài nóc nhà lại bị chìm lút trong thiên nhiên bởi tư thế lom khom, bởi số lượng và sự phân bố lác đác. Tiếng kêu quốc quốc, gia gia khắc khoải càng gợi lên cảm giác buồn giữa không gian hoang vắng. 4. cảnh tượng Đèo Ngang là cảnh um tùm cây cỏ, hoang vắng, thưa thớt con người, cảnh đó lại kèm theo tiếng chim cuốc, chim đa đa nên lại càng buồn, càng hoang vắng, cảnh đó tạo điều kiện để tác giả thể hiện tình cảm nhớ quê hương và cô đơn, âm thầm buồn của mình khi đốì diện với thiên nhiên. 5. Tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan khi qua Đèo Ngang là tâm trạng buồn, cô đơn, nhớ nhà, nhớ nước cũ. Tác giả đã mượn cảnh thưa vắng con người, rậm rạp cây lá, mượn tiếng chim gợi nhớ nước nhà quốc quốc, gia gia để nói tình cảm buồn và tả trực tiếp một mảnh tình riêng, ta với ta — tình cảm cô đơn. 6. Nói một mảnh tình riêng ta với ta giữa cảnh trời, non, nước bao la ỏ Đèo Ngang khác với nói ở không gian khác. Bởi vì ở một nơi rộng lớn, con người càng thấy cô đơn và bé nhỏ. Nếu cô đơn thì sự cô đơn như được nhân lên nhiều lần bởi sự cộng hưỏng của môi trường. III - HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP Cụm từ ta với ta thể hiện không có nhiều đối tượng - Ta thứ nhất là bản thân người nói. - Ta thứ hai cũng chính là bản thân người nói. - Ta với ta là không có ai khác, chỉ có một mình nhà thơ.
bài 6 qua đèo ngang